Một số sửa đổi, bổ sung quan trọng về bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ (theo Luật số 07/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội)

CategoriesBản tin, Thư viện

1. Điều 201. Giám định về sở hữu trí tuệ

Quy định hiện hành:

“1. Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

2. Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư,  trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam đáp ứng các điều kiện sau đây được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ:

a) Có nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động giám định theo quy định của pháp luật;

b) Có chức năng thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động;

c) Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức ủy quyền có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.

3. Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ:

a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Thường trú tại Việt Nam;

c) Có phẩm chất đạo đức tốt;

d) Có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định, đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực đó từ năm năm trở lên và đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp vụ về giám định.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền trưng cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý.

5. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

6. Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.”

Quy định mới:

Luật sửa đổi năm 2022 giữ nguyên quy định tại khoản 3 và khoản 6. Các sửa đổi bổ sung cụ thể khác gồm:

Tại Khoản 1, bổ sung quy định Việc giám định tư pháp về sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư phápvào đoạn cuối nhằm tách biệt rõ hoạt động giám định tư pháp về sở hữu trí tuệ với hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Bổ sung khoản 1a như sau:

1a. Giám định về sở hữu trí tuệ bao gồm:

a) Giám định về quyền tác giả và quyền liên quan;

b) Giám định về quyền sở hữu công nghiệp;

c) Giám định về quyền đối với giống cây trồng.

Tại Khoản 2 sửa đổi như sau: Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2a Điều này

Và bổ sung thêm Khoản 2a: Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ.

Có thể thấy quy định mới đã rõ ràng và ngắn gọn hơn so với quy định hiện hành.

Tại Khoản 4, lần đầu tiên trong luật đã đặt ra các nguyên tắc trong thực hiện giám định về sở hữu trí tuệ như sau:

“4. Nguyên tắc thực hiện giám định bao gồm:

a) Tuân thủ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục giám định;

b) Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời;

c) Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu;

d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định;

đ) Chi phí giám định được xác định theo thỏa thuận giữa người có yêu cầu giám định và tổ chức, cá nhân giám định.”

Tại Khoản 5 được sửa đổi như sau: Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xử lý, giải quyết vụ việc. Kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.”

Như vậy lần đầu tiên trong Luật đã công nhận giá trị chứng cứ của Kết luận giám định, điều này có ý nghĩa quan trong trong hoạt động thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đây cũng là lần đầu tiên trong văn bản luật chỉ rõ về giới hạn của Kết luận giám định, cụ thể kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.

2. Điều 212. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự

Quy định hiện hành:

Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.”

Quy định mới:

“Cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Luật số 07 đã bổ sung chủ thể “pháp nhân thương mại” cho phù hợp với Bộ luật hình sự hiện hành và các cam kết quốc tế liên quan. Đồng thời Luật sửa đổi 2022 cũng loại bỏ cụm “theo quy định của pháp luật hình sự” ở cuối điều luật để đảm bảo tính chặt chẽ, chính xác và khoa học.

3. Điều 213. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ

Quy định hiện hành:

1. Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.

3. Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan.”

Quy định mới:

1. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý, hàng hóa sao chép lậu quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

2. Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.

3. Hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó và việc gắn dấu hiệu này được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân không có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này hoặc theo pháp luật của nước xuất xứ của chỉ dẫn địa lý đó.

4. Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.

Như vậy, theo Luật sửa đổi thì Điều 213 được kết cấu thành 4 khoản (them một khoản 4 so với luật hiện hành), bao gồm:

Tại khoản 1, với mục đích tách biệt rõ các thuật ngữ và khái niệm liên quan, Luật đã thêm từ “hàng hóa” vào trước cụm “giả mạo chỉ dẫn địa lý” để tạo thành một thuật ngữ đầy đủ, dễ hiểu: “hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý” sẽ được giải thích ở khoản 3.

Tại khoản 2 cũng có một số sửa đổi, bổ sung đáng chú ý đó là: tách nội dung về hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý thành một khoản riêng (khoản 3) và quy định cụ thể hơn về: i) các dấu hiệu được sử dụng gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa sẽ bao gồm cả tem, nhãn có chứa các dấu hiệu và ii) đã đưa thêm cụm “tương tự đến mức” vào trước cụm “khó phân biệt” nhằm đảm bảo sự chuẩn xác của khái niệm.

Tại khoản 3 của điều luật đã tách riêng và chỉ rõ thế nào là hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý. Theo đó, tương tự như đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng háo giả mạo chỉ dẫn địa lý được cụ thể và mở rộng hơn so với hiện hành, đó là: i) các dấu hiệu được sử dụng gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa được chỉ rõ là bao gồm cả tem, nhãn có chứa các dấu hiệu và ii) đã đưa thêm cụm “tương tự đến mức” vào trước cụm “khó phân biệt” nhằm đảm bảo sự chuẩn xác của khái niệm.

Tại khoản 4 về hàng hóa sao chép lậu cũng có sự sửa đổi để đảm bảo tính chặt chẽ, logic và dễ hiểu của điều luật, cụ thể thay cụm “mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan” bằng quy định “mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.”

4. Điều 214. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

Quy định hiện hành:

“1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

2. Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu,  phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ;    

b) Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.

3. Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;

b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá.

4. Mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được. Chính phủ quy định cụ thể cách xác định giá trị hàng hóa vi phạm.”

Quy định mới:

1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

2. Ngoài các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và đáp ứng cáđiều kiện khác theo quy định của Chính phủ.

3. Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”

Như vậy có thể thấy ngay là Luật sửa đổi đã bỏ đi một khoản (khoản 4 ) và ngắn gọn hơn nhiều so với quy định hiện hành. Cụ thể:

Tại Khoản 1 của điều luật đã có sự sửa đổi cơ bản bằng việc chỉ ghi nhận mang tính nguyên tắc: các vi phạm hành vi về sở hữu trí tuệ sẽ bị áp dụng theo các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Điều này đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cụ thể là giữa pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và đảm bảo sự chặt chẽ, nhất quán trong hướng dẫn và áp dụng.

Tại Khoản 2 của điều luật cũng được sửa đổi theo hướng của khoản 1 và có quy định cụ thể việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả mang tính đặc thù của lĩnh vực sở hữu trí tuệ đó là “buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ”. Để đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ thể quyền, lợi ích xã hội, khoản 2 cũng chỉ rõ điều kiện chung để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đặc thù trên như sau: “với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.

5. Điều 215. Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính

Quy định hiện hành:

1. Trong các trường hợp sau đây, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính quy định tại khoản 2 Điều này:

a) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

b) Tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm;

c) Nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

2. Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

a) Tạm giữ người;

b) Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm;

c) Khám người;

d) Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ;

đ) Các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Quy định mới:

Phù hợp với định hướng và chủ trương chỉ đạo sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ như đề cập tại mục 3) trên đây, luật sửa đổi đã xóa bỏ toàn bộ Điều 215 của luật hiện hành. Theo tinh thần đó, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt hành chính sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

6. Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

6.1. Điều 216. Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

Quy định hiện hành:

“1. Các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ bao gồm:   

a) Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

2. Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính.

3. Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan.4. Trong quá trình thực hiện biện pháp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, nếu phát hiện hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này thì cơ quan hải quan có quyền và có trách nhiệm áp dụng biện pháp hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 214 và Điều 215 của Luật này.”

Quy định mới:

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

“2. Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp được tiến hành trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặnbảo đảm xử phạt vi phạm hành chính;

b) Cơ quan hải quan chủ động thực hiện nếu trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.”;

Như vậy Luật mới đã xác lập hai cơ chế để cơ quan hải quan có thể căn cứ vào đó thực hiện việc tạm dừng làm thủ tục hải quan. Đặc biệt với quy định “cơ quan hải quan chủ động thực hiện” đã đề cao vai trò của cơ quan hải quan, là cơ sở để lực lượng chức năng phát huy hơn nữa năng lực nhưng đồng thời cũng là yêu cầu cần năng cao tinh thần trách nhiệm trong thi hành công vụ.

Luật mới cũng bổ sung thêm khoản 5 như sau: “Chính phủ quy định chi tiết điểm b khoản 2 Điều này” nhằm mục đích đảm bảo việc áp dụng và thực hiện cơ chế chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan được thống nhất và chặt chẽ.

6.2. Điều 218. Thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan

Quy định hiện hành:

1. Khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 217 của Luật này thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng. Cơ quan hải quan cung cấp cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông tin về tên và địa chỉ của người gửi hàng; nhà xuất khẩu, người nhận hàng hoặc nhà nhập khẩu; bản mô tả hàng hóa; số lượng hàng hóa; nước xuất xứ của hàng hóa nếu biết, trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính để xử lý đối với hàng hóa giả mạo về nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu theo quy định tại khoản 4 Điều 216 của Luật này.

2. Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan là mười ngày làm việc, kể từ ngày người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan nhận được thông báo của cơ quan hải quan về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan. Trong trường hợp người yêu cầu tạm dừng có lý do chính đáng thì thời hạn này có thể kéo dài, nhưng không được quá hai mươi ngày làm việc với điều kiện người yêu cầu tạm dừng thủ tục hải quan phải nộp thêm khoản bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 217 của Luật này.

3. Khi kết thúc thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với người xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng thì cơ quan hải quan có trách nhiệm sau đây:

a) Tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng;

b) Buộc người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan phải bồi thường cho chủ lô hàng toàn bộ thiệt hại do yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng gây ra và phải thanh toán các chi phí lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa và các chi phí phát sinh khác cho cơ quan hải quan và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan theo quy định của pháp luật về hải quan;

c) Hoàn trả cho người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan khoản tiền bảo đảm còn lại sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường và thanh toán các chi phí quy định tại điểm b khoản này.”

Quy định mới:

Bổ sung thêm khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 218 như sau:

“4. Trong trường hợp cơ quan hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan phải thông báo ngay cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nếu có thông tin liên hệ và cho người nhập khẩu hoặc người xuất khẩu về việc tạm dừng.

Trong thời hạn mười ngày làm việckể từ ngày thông báo, nếu chủ thể quyền sở hữu trí tuệ không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan hải quan có trách nhiệm tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng.”

Với quy định bổ sung trên, một mặt tăng cường vai trò và trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc chủ động giám sát, kịp thời phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mặt khác cũng yêu cầu trách nhiêm phối hợp từ phía chủ thể quyèn sở hữu trí tuệ nhằm xử lý nhanh nhất vụ việc trong cả trường hợp có vi phạm hoặc không có vi phạm nhằm không làm nahr hướng hoặc lạm dùng quyền để ngăn cản hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hợp pháp của các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp khác.

Hiệu lực thi hành của Luật số 07/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2023, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Ông Tăng Đức Khương

Phòng Thực thi quyền Sở hữu trí tuệ

INVESTIP IP LAW FIRM